Chi tiết chương trình
 
Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về SHTT cho khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên
 Ngày: 19-01-2022
File đính kèm: , ,
Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ đang ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam và các quy định về sở hữu trí tuệ trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh việc ban hành hệ thống pháp luật quốc gia, Việt Nam còntham gia hầu hết các điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ đãtạo được cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các tổ chức, cánhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài, góp phần khẳng định chính sách củaNhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,trong đó có việc nâng cao nhận thức và ý thức về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ củacông chúng cũng như trình độ, năng lực chuyên môn của các cán bộ quản lý tronglĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Trên cơ sở quy định của pháp luật, xuất phát từ nhu cầu thựctế về đào tạo sở hữu trí tuệ, Quyết định số 1062/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủvề việc phê duyệt Chương trình tài sản trí tuệ giai đoạn 2016 – 2020 có quy định,một trong những mục tiêu của Chương trình là đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về sởhữu trí tuệ cho khoảng 1000 cá nhân, tổ chức. Thực hiện mục tiêu trên, ngày20/3/2017 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số514/QĐ-BKHCN về việc phê duyệt Danh mục các dự án thuộc Chương trình phát triểntài sản trí tuệ để xét giao trực tiếp cho thực hiện từ năm 2017, trong đó có Dựán “Đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ cho khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên”. Sauđó, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 1034/QĐ-BKHCNngày 28/4/2017 về việc phê duyệt tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm, kinh phí,phương thức khoán chi và thời gian thực hiện nhiệm vụ bắt đầu thực hiện từ năm2017 thuộc Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020.

Sau hơn 02 năm triển khai, Dự án đã hoàn thành các mục tiêuđặt ra: tổ chức đào tạo 31 lớp chuyên sâu về sở hữu trí tuệ cho các đối tượnglà (i) giảng viên thuộc 03 khối ngành (khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ;kinh tế, tài chính và marketing; khoa học xã hội nhân văn, nghệ thuật và kiếntrúc) và (ii) các doanh nghiệp, (iii) các cán bộ thuộc các cơ quan thực thi vềsở hữu trí tuệ (cán bộ tòa án, quản lý thị trường và công an, hải quan) thuộckhu vực Nam Bộ và Tây Nguyên. Dự án đã xây dựng, hoàn thiện các chương trìnhđào tạo cho từng nhóm đối tượng, xây dựng hệ thống tài liệu giảng dạy gồm cácchuyên đề và tập bài giảng, sách chuyên khảo về sở hữu trí tuệ.  Những tài liệu giảng dạy không chỉ phục vụcho các hoạt động đào tạo trong khuôn khổ Dự án, mà còn có giá trị tham khảo hữuích cho các cơ quan, tổ chức, trường đại học nhằm hỗ trợ cho các hoạt độngnghiên cứu, tập huấn và thực hiện các công tác chuyên môn trong lĩnh vực sở hữutrí tuệ của các đơn vị có liên quan.


Dự án đã thực hiện được mục tiêu đánh giá thực trạng nhận thứccủa doanh nghiệp, giảng viên các trường đại học, cán bộ thực thi quyền sở hữutrí tuệ về pháp luật sở hữu trí tuệ và nhu cầu đào tạo về pháp luật sở hữu trítuệ của các đối tượng trên. Một trong những thành công của Dự án là xây dựng đượcchương trình đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, xây dựng hệ thống tài liệuphục vụ việc đào tạo mang tính đồng bộ, hệ thống và tổ chức đào tạo trên thực tếcho hơn 600 người học trên phạm vi khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, góp phần nângcao nhận thức, ý thức và kiến thức về sở hữu trí tuệ trong xã hội Việt Nam.

Để nâng cao và mở rộng chất lượng đào tạo, Dự án cũng hệ thốngvà chuẩn hoá các tài liệu giảng dạy (tập tài liệu in) nhằm cung cấp cho người họcvà các đối tượng có nhu cầu tham khảo, tự học. Sách chuyên khảo về bình luậncác bản án, các vụ việc thực tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là công cụ truyềntải, lan rộng kết quả của Dự án đến những đối tượng chưa được đào tạo trongkhuôn khổ 31 lớp, nhằm cung cấp những kiến thức chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Kết quả của dự án có thể được sử dụng cho các ngành, địaphương xây dựng và tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn về sở hữu trí tuệ cho cácđối tượng thuộc địa phương, lĩnh vực quản lý của mình nhằm mở rộng và nâng caokhả năng nhận thức và quyền SHTT nói chung.

Hoạt động của Dự án còn tạo điều kiện để đơn vị chủ trì Dựán (Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh) tiếp tục phát triển các chương trìnhđào tạo ngắn hạn có tính ứng dụng và liên ngành, đồng thời tiếp tục củng cổ,phát triên các quan hệ hợp tác phát triển của đơn vị với các trường đại học lớn.Trong tương lai, việc mở ngành đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực sở hữu trí tuệ làhoàn toàn có thể thực hiện được bởi nhu cầu xã hội về vấn đề này hiện nay đangtăng cao.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường bảo hộquyền sở hữu trí tuệ hiện nay, việc đào tạo, huấn luyện các kiến thức về sở hữutrí tuệ, đặc biệt các kiến thức chuyên sâu về sở hữu trí tuệ là một nhu cầu thựctiễn, được dự báo ngày càng gia tăng và sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong thờigian tới. Đối tượng có nhu cầu đào tạo về sở hữu trí tuệ rất đa dạng, trong đóđối tượng có nhu cầu cấp thiết bao gồm các cán bộ pháp chế, những người làm việctrong các bộ phận sáng tạo, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp; các cán bộ trựctiếp thực hiện nhiệm vụ đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ, giảng viên, cánbộ tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhu cầu được đào tạo vềsở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp khởi nghiệp là rất lớn.

Việc đào tạo, đặc biệt đào tạo kiến thức chuyên sâu về sở hữutrí tuệ cho các đối tượng nêu trên, nhằm trang bị các kiến thức pháp lý và cáckỹ năng thực tế về sở hữu trí tuệ, một mặt nhằm giúp các chủ thể này nhận diệnđược các tài sản trí tuệ của mình, hiểu được cách thức bảo vệ và khai thác quyềnsở hữu trí tuệ, mặt khác tránh được các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ củacác chủ thể khác một cách chủ động.

Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng là ba trụcột trách nhiệm chính của một cơ sở giáo dục đại học. Sứ mệnh phục vụ cộng đồngluôn được trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh chú trọng đầu tư. Trong rất nhiềucác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam,đào tạo kiến thức và kỹ năng về sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng. Điều 8 Luậtsở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: “Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộquyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyềnsở hữu trí tuệ”. Hoạt động giảng dạy theo Dự án đã đạt được những kết quả tíchcực thể hiện qua 31 lớp đào tạo và hơn 600 học viên được cấp chứng chỉ ở khu vựcNam Bộ và Tây Nguyên. Nội dung tham luận đánh giá, tổng kết những kết quả đã đạtđược của Dự án về nội dung giảng dạy, bộ tài liệu học tập cũng như đặt raphương hướng phát triển, đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ trong tương lai. Tiếpsau việc thực hiện đào tạo về sở hữu trí tuệ, kết quả của Dự án có thể là cơ sởđể hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Kết quả của các hoạt động nói trên đã nâng cao hiểu biết,trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nghề nghiệpcủa đội ngũ giảng viên; đồng thời cũng trang bị những kiến thức để lồng ghép giảngdạy, tuyên truyền sở hữu trí tuệ cho sinh viên và hình thành ý thức thương mạihóa các sản phẩm trí tuệ cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên của Nhà trườngđã nghiên cứu và tạo ra.

Các lớp học được tổ chức hiệu quả, đạt được mục tiêu của Dựán ban đầu. Khuyến khích và góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo vàphát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp và các trường Đại học trong khu vựcđào tạo, khắc phục tình trạng hiện nay một số doanh nghiệp và giảng viên trườngĐại học chưa nhận diện được tài sản trí tuệ của bản thân. Đồng thời, các lớp họcđược tổ chức còn nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế, ứngdụng hệ thống thông tin sáng chế phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh củadoanh nghiệp.

Phương Trà

 


Các tin đã đưa
Giải pháp quản lý Nhà nước về tài sản trí tuệ vùng Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế   (19-04-2022)
Tình hình khai thác, thương mại hóa sáng chế tại Việt Nam  (12-04-2022)
Nâng cao nhận thức về bảo hộ, phát triển tài sản trí tuệ cho các chủ thể sản xuất và kinh doanh sản phẩm OCOP  (09-04-2022)
Thị trường và xu thế phát triển cây đậu phộng Tây Ninh  (01-04-2022)
Xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Quế vỏ của huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai  (29-03-2022)
Xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Nha Đam Ninh Thuận  (20-03-2022)
Đăng ký bảo hộ và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Cá chình bông của tỉnh Phú Yên  (16-03-2022)
Thực trạng sản xuất kinh doanh và chính sách hỗ trợ phát triển mai vàng của tỉnh Bình Định  (03-03-2022)
Quản lý và phát triển CDĐL Cao Lãnh cho sản phẩm xoài gắn với việc kiểm soát chất lượng, mã số vùng trồng  (10-02-2022)
Đăng ký bảo hộ, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm thịt trâu Chiêm Hóa Tuyên Quang  (16-02-2022)
Đăng ký bảo hộ, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm mác mật  (06-02-2022)
Quản lý, khai thác CDĐL “Hưng Yên” cho sản phẩm nhãn hướng tới xuất khẩu  (29-01-2022)
Định hướng khai thác và phát triển giá trị thương hiệu Merriman  (23-01-2022)
Thiết lập mạng lưới kênh phân phối sản phẩm chuối ngự mang CDĐL “Đại Hoàng”  (19-09-2021)
Áp dụng sáng chế không bảo hộ tại Việt Nam để phát triển sản phẩm hỗ trợ điều trị Alzheimer   (16-09-2021)
Áp dụng sáng chế của Mỹ để xử lý chất thải rắn chứa crom tại Việt Nam  (17-08-2021)
Sản xuất vật liệu và thiết bị xử lý nước uống an toàn sinh học từ sáng chế  (22-07-2021)
Xây dựng, vận hành tổ chức quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ  (05-06-2021)
Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm Cam Cao Phong  (21-04-2021)
Chỉ dẫn địa lý Dầu tràm Huế: Phát huy giá trị di sản  (15-05-2021)